[CS 07 – 12/2019] – TIMESHARE – MÔ HÌNH KINH DOANH MỚI Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ

Trần Thị Hoàng Oanh (K19504) & Nguyễn Thị Ánh Dương (K19504),
Sinh viên Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG Tp.HCM

Timeshare là hình thức kinh doanh phổ biến trên thế giới, tuy nhiên, mô hình kinh doanh này chỉ mới ở giai đoạn sơ khởi tại thị trường Việt Nam. Timeshare mang lại nhiều lợi ích cho cả nhà đầu tư và khách hàng vì những ưu điểm khác biệt so với các loại hình kinh doanh truyền thống. Tuy nhiên, tại nước ta, cơ sở pháp lý dành cho Timeshare vẫn chưa rõ ràng dẫn đến nhiều rủi ro tiềm ẩn khi các bên tham gia vào loại hình kinh doanh mới mẻ này. Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả sẽ chỉ ra những khoảng trống pháp lý của Timeshare và đề xuất bổ sung quy định về Timeshare trong hệ thống pháp luật tại Việt Nam.

1. Khái niệm Timeshare và lợi ích khi đầu tư Timeshare
Timeshare theo nghĩa tiếng Việt được hiểu là “sở hữu kỳ nghỉ”, là hình thức kinh doanh mà một hay một nhóm người mua chung quyền sở hữu một phần tài sản là thời gian sở hữu bất động sản nghỉ dưỡng.[1] Người mua sẽ trả một khoản tiền cho chủ đầu tư tại thời điểm giao dịch, đồng thời phải trả tiền phí hằng năm cho chủ đầu tư theo thỏa thuận.
Timeshare được phổ biến rộng rãi bởi những lợi ích mà loại mô hình này mang đến. Khi đầu tư Timeshare, nhà đầu tư có các quyền lợi như: được toàn quyền sử dụng, khai thác trong thời hạn quy định theo hợp đồng ký kết, có thể bán cho người khác hoặc khai thác kinh doanh qua việc cho thuê. Ngoài ra, Timeshare còn cho phép người mua có quyền trao đổi các tài sản với nhau với điều kiện tài sản đó đã được đăng ký Timeshare.[2]
Có nhiều loại hình Timeshare trên thế giới, nhưng có thể quy về ba loại chính: Sở hữu tài sản vô thời hạn (deeded interests), sở hữu tài sản hữu hạn (leasehold) và sử dụng tài sản có thời hạn (right to use – RTU).[3]
Thị trường Timeshare tuy đã phổ biến trên thế giới nhưng chỉ mới du nhập vào Việt Nam vài năm gần đây, thậm chí nhiều người vẫn còn nhầm lẫn giữa Timeshare với loại hình sở hữu bất động sản Condotel. Về cơ bản, Condotel hoạt động theo hình thức Timeshare nhưng vẫn có điểm khác biệt. Cụ thể, Condotel là sự kết hợp giữa căn hộ chung cư và phòng khách sạn, người mua Condotel có thể tự kinh doanh căn hộ của mình hoặc cho chủ đầu tư thuê lại để vận hành và tiền thuê sẽ được chia theo thỏa thuận giữa người mua Condotel và chủ đầu tư. Trong khi đó, người mua Timeshare được toàn quyền sử dụng bất động sản trong thời gian thỏa thuận, họ chỉ cần trả một khoản tiền cho chủ đầu tư tại một thời điểm nhất định và các khoản phí hao tổn, sửa chữa hằng năm theo thỏa thuận hợp đồng.
Timeshare được áp dụng cho ngành du lịch nghỉ dưỡng tại Châu Âu vào những năm 1960, khi hai công ty hoạt động trong lĩnh vực nghỉ dưỡng ở Pháp và Thụy Sĩ đưa ra một loại hình dịch vụ mới với tên gọi “Chủ sở hữu kỳ nghỉ”[4]. Kể từ đó, hàng loạt các tên tuổi nổi tiếng trong ngành du lịch khách sạn đã bắt đầu tham gia vào thị trường Timeshare như Hilton, Sheraton, Ramada, … Hiện nay, chỉ riêng ở Hoa Kỳ, tổng doanh thu của thị trường Timeshare tăng gần 4% lên 9,6 tỷ đô la và tỷ lệ sử dụng trung bình của mô hình này là hơn 81% trong năm 2017.[5] Trên thế giới, tổng doanh thu của thị trường Timeshare đạt khoảng 14 tỷ USD/năm (giai đoạn 2010 – 2015) và có khoảng 20 triệu hộ gia đình trên toàn thế giới sở hữu ít nhất một sản phẩm Timeshare.[6]
2. Những khoảng trống pháp lý dành cho mô hình Timeshare tại Việt Nam
2.1. So sánh khung pháp lý mô hình Timeshare tại Việt Nam và trên thế giới
Tại Anh, Pháp và một số bang của Mỹ, cơ sở pháp lý cho Timeshare gần như đã hoàn thiện, đảm bảo tính chặt chẽ và nghiêm minh. Một số nước ở châu Âu đã ra các quy định mang tính hướng dẫn, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư và người mua thoải mái trao đổi, kinh doanh trong sự cho phép của pháp luật.[7] Đơn cử, Hiệp hội phát triển khu nghỉ dưỡng Hoa Kỳ (ARDA) đã ban hành các đạo luật[8] cho hình thức kinh doanh này, trong đó nêu rõ và nhấn mạnh một số quy định như: Yêu cầu chủ đầu tư cung cấp thông tin hợp lý cho người tiêu dùng trước khi người tiêu dùng cân nhắc và ra quyết định mua bất động sản Timeshare; đưa ra danh sách các hành vi bị cấm dựa trên kinh nghiệm, báo cáo của người tiêu dùng và các thành viên của ARDA, đặt ra các hình phạt nghiêm khắc đối với người vi phạm và các công ty lừa đảo; yêu cầu bồi thường và chỉ định người được nhận bồi thường cho những thiệt hại họ phải gánh chịu do hành vi vi phạm đạo luật gây ra; đề ra các lệnh cấm sử dụng mô hình đối với các cá nhân và tổ chức vi phạm.
Trong khi đó, ở Việt Nam, việc quản lý các hoạt động Timeshare còn rất nhiều bất cập. Các quy định có liên quan không đủ sức bảo vệ quyền lợi của người tham gia Timeshare.
Thứ nhất, Timeshare không phải là hình thức kinh doanh bất động sản[9], vì thế nó không chịu sự điều chỉnh của Luật Kinh doanh bất động sản. Timeshare theo nghĩa tiếng Việt là “sở hữu kỳ nghỉ”, tuy người mua Timeshare có quyền cho thuê hoặc bán lại Timeshare nhưng đối tượng của Timeshare là thời gian sở hữu kỳ nghỉ hay quyền lưu trú, không phải bất động sản. Nghĩa là, bản chất của Timeshare là hình thức kinh doanh dịch vụ, nó bước ra ngoài những giao dịch bất động sản thông thường. Cho nên, Timeshare nằm ngoài đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh doanh bất động sản.[10]
Thứ hai, với tư cách là một loại hình kinh doanh dịch vụ (trường hợp này là kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch), nếu có thể viện dẫn các quy phạm pháp luật có liên quan đến Timeshare thì phải căn cứ Luật Thương mại 2005[11], Luật Du lịch 2017[12], Nghị định 168/2017/NĐ-CP, Nghị định 142/2018/NĐ-CP. Tuy nhiên, các chế định này cũng không thể điều khiển toàn bộ các giao dịch Timeshare. Bởi vì, khi mua Timeshare, người mua có quyền cung ứng lại dịch vụ lần thứ hai, hoặc tặng lại kỳ nghỉ cho người khác. Trong khi đó, chế định vừa nêu chỉ điều chỉnh các giao dịch cung ứng lần đầu. Như vậy, những giao dịch phát sinh sau hợp đồng đầu tiên (được giao kết giữa chủ sở hữu và người trực tiếp mua Timeshare) đều không thuộc phạm vi điều chỉnh của các chế định này.
Thứ ba, việc giao kết hợp đồng Timeshare cần một quy định riêng biệt để phù hợp hoàn toàn với tính chất của nó chứ không chỉ là những quy định chung về hợp đồng như trong Bộ luật Dân sự (sau đây gọi là BLDS) 2015. Khi sử dụng dịch vụ này, ngoài khoản phí thanh toán một lần khi giao dịch, trong thời gian sở hữu kỳ nghỉ[13], người mua còn phải thanh toán các loại phí thường niên để duy tu, đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất Timeshare. Khoản phí này năm đầu tiên sẽ được trả theo mức đã thỏa thuận trong hợp đồng, tuy nhiên, các năm sau đó lại thường do chủ sở hữu tự điều chỉnh, không có một ràng buộc nào có thể đảm bảo rằng mức giá đó là hợp lý. Hơn nữa, điều này vi phạm nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” được quy định ở BLDS 2015.[14]
2.2. Khung pháp lý chưa hoàn thiện khiến cho mô hình Timeshare tiềm ẩn nhiều rủi ro
Timeshare là mô hình không còn xa lạ trên thế giới nhưng chưa thực sự phổ biến ở Việt Nam. Vì còn tương đối mới nên Timeshare vẫn chưa được điều chỉnh bởi một khung pháp lý riêng biệt và phù hợp hoàn toàn. Hành lang pháp lý của Timeshare còn phụ thuộc vào các quy phạm chung. Tuy nhiên, chính những đặc điểm khác biệt của Timeshare với các loại hình kinh doanh truyền thống khiến cho hành lang pháp lý này chưa thể bao quát toàn bộ các giao dịch Timeshare. Khoảng trống về cơ sở pháp lý đã khiến cho mô hình kinh doanh này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả nhà đầu tư và khách hàng.
Thứ nhất, lợi dụng những khoảng trống pháp lý ấy, một số cá nhân, công ty lừa đảo đã thực hiện hành vi sai trái, đưa ra các Timeshare “ảo” không có trên thực tế để thu lợi bất chính. Bên cạnh đó, việc thiếu một hành lang pháp lý vững chắc còn khiến cho các bên tham gia mô hình kinh doanh này không có cơ sở để giải quyết những vấn đề phát sinh, chẳng hạn như các vấn đề về quyền thừa kế. Cụ thể, khi thực hiện giao dịch Timeshare, người mua được thỏa thuận là có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt với bất động sản nghỉ dưỡng đó trong một thời gian nhất định, kể cả việc có thể được để lại di sản (trường hợp này là thời gian sở hữu kỳ nghỉ).[15] Tuy nhiên, với khung pháp lý như hiện nay, khi chưa có cơ sở pháp lý nào dành riêng cho mô hình “sở hữu kỳ nghỉ”, nhóm tác giả cho rằng sẽ có rất nhiều trường hợp quyền này không được đảm bảo theo quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan như BLDS, đặc biệt là khi xảy ra xung đột, tranh chấp.
Ngay cả quyền đối với bất động sản Timeshare có thuộc “quyền hưởng dụng” trong danh mục “quyền khác đối với tài sản”[16] tại Bộ luật này hay không vẫn chưa được quy định rõ ràng.[17] Bởi những lợi ích mà người mua được thỏa thuận khi tham gia mô hình này chỉ được ghi nhận theo hợp đồng như “đặc tính chung của sản phẩm”, không được ghi nhận thành “quyền” trong luật và không được pháp luật bảo vệ như các “quyền” của người tham gia những giao dịch dân sự này.[18] Nếu trường hợp chủ sở hữu vi phạm hợp đồng, thì cũng chỉ được Luật Hợp đồng điều chỉnh, còn những quyền lợi nằm bên ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Hợp đồng thì không được đảm bảo bằng những quy phạm pháp luật cụ thể.
Thứ hai, bên cạnh việc thiếu cơ sở để bảo vệ quyền lợi của người tham gia Timeshare, còn có những rủi ro xảy ra khi các công ty kinh doanh bằng hình thức này không đảm bảo về tài chính. Người mua quyền “sở hữu kỳ nghỉ” chỉ mua quyền sử dụng bất động sản đó trong một khoảng thời gian nhất định mà không phải hoàn toàn sở hữu, quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc về chủ sở hữu. Nếu như các công ty sở hữu này bị phá sản, bất động sản Timeshare bị phát mãi[19] thì quyền lợi của người đã mua thời gian sử dụng bất động sản trước đó sẽ không được đảm bảo.
Thứ ba, hiện nay còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro trong vấn đề chủ sở hữu sử dụng hợp đồng mẫu nhưng không đảm bảo các điều kiện về hợp đồng đó.[20] Chủ sở hữu bất động sản Timeshare đưa ra hợp đồng mẫu, trong đó, các điều khoản hợp đồng không rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, nhưng lại không giải thích cho khách hàng về các điều khoản đó. Ví dụ hợp đồng có quy định trách nhiệm của người mua Timeshare, ngoài khoản phí thanh toán một lần, người mua còn phải trả tiền phí dịch vụ thường niên, khoản này dùng để bảo dưỡng, duy trì các căn hộ để luôn đảm bảo các tiện nghi và đồ dùng, vật dụng. Tuy nhiên, vì mong muốn nhanh chóng thu lợi và ký kết được nhiều hợp đồng, một số công ty không giải thích một cách minh bạch khoản phí này cho khách hàng, dẫn đến nhiều vấn đề phát sinh sau khi hợp đồng đã được giao kết. [21]
Điều 405(2) của BLDS năm 2015 chỉ rõ: ‘trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó’.[22] Như vậy, khi sử dụng hợp đồng mẫu nhưng không giải thích rõ ràng về các điều khoản trong hợp đồng đó thì bên phía cung cấp hợp đồng (trường hợp này là chủ sở hữu Timeshare) phải chịu bất lợi khi giải thích các điều khoản trong hợp đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều trường hợp khách hàng không thể kiểm soát các loại phí dịch vụ đó vì những khoản phí này có thể được chủ đầu tư tự điều chỉnh tùy ý trong những năm tiếp theo.[23]
Thực trạng Timeshare tại Việt Nam đang tồn tại những rủi ro khó lường. Đơn cử như vụ việc của công ty Alma Vịnh Thiên Đường năm 2018 vừa qua.[24] Cụ thể, công ty TNHH Khu du lịch Vịnh Thiên Đường (Nha Trang) bị khởi kiện vì những mập mờ, có dấu hiệu bất thường trong giao dịch Timeshare. TAND Tp. Nha Trang đã tuyên án vụ đầu tiên trong tổng số 39 hồ sơ kiện chủ dự án “Alma Nha Trang” về hợp đồng bán kỳ nghỉ trong dự án. Theo nguyên đơn, thực trạng dự án do công ty thông tin đến khách hàng không đúng như hợp đồng về địa điểm và tình hình thi công của bất động sản. Nguyên đơn cho rằng, công ty đã đưa những thông tin sai sự thật để khiến khách hàng nhanh chóng ký kết hợp đồng mua bán kỳ nghỉ, đồng thời vi phạm quy định về các vấn đề tài chính và những ưu đãi chỉ có trong lời giới thiệu mà không có trong dự án.[25] Vụ việc trên chỉ là một trong vô số những tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh Timeshare, minh chứng cho hậu quả của khung pháp lý thiếu tính chặt chẽ hiện nay.
Việc thiếu tính rõ ràng trong giao kết hợp đồng nhưng không có một cơ sở pháp lý nào bảo vệ là một trong những điểm phát sinh rủi ro khó lường cho các bên giao dịch, đặc biệt là khách hàng của Timeshare.
3. Đề xuất bổ sung quy định về Timeshare trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Nhìn nhận về khoảng trống pháp lý dành cho Timeshare và những rủi ro đối với người tham gia Timeshare trong nước, nhóm tác giả cho rằng cần nhanh chóng có một hệ thống pháp lý vững chắc cho mô hình này tại Việt Nam. Trong đó, chúng ta nên nhấn mạnh các điều khoản về bảo vệ người mua Timeshare, đồng thời, đặt ra các nghĩa vụ và yêu cầu đối với người kinh doanh theo mô hình này. Cụ thể, người kinh doanh cần đảm bảo tài chính và bất động sản đăng ký Timeshare không được nằm trong danh mục tài sản có thể bị phát mãi nếu chủ sở hữu phá sản. Các công ty khi giao dịch với khách hàng cần chỉ rõ nghĩa vụ của khách hàng, đặc biệt là minh bạch về khoản phí dịch vụ thường niên, đồng thời đảm bảo các yêu cầu khi sử dụng hợp đồng mẫu.
Bên cạnh đó, theo quan điểm của tác giả, nên đưa “thời gian sở hữu kỳ nghỉ” vào một danh mục tài sản thích hợp trong các bộ luật hiện hành (ví dụ như “quyền tài sản” thuộc BLDS 2015) để có một hệ quy chiếu rõ ràng khi phát sinh vấn đề. Tóm lại, để tạo được một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các bên khi tham gia Timeshare, cần có sự nỗ lực của các cơ quan chuyên trách về pháp luật, nỗ lực để tạo nên một khung pháp lý vững chắc, quy định về nghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên khi thực hiện giao dịch dưới hình thức kinh doanh này.
4. Kết luận
Để có được một mô hình kinh doanh Timeshare hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh của thị trường, đòi hỏi sự nỗ lực từ rất nhiều phía. Trong đó, vai trò của pháp luật và các nhà làm luật là rất lớn. Đối với Timeshare, một hình thức kinh doanh tuy mới, cần phải nhanh chóng tạo một cơ sở pháp lý vững chắc, chặt chẽ và nghiêm minh để tránh trường hợp nhiều cá nhân tổ chức lợi dụng để làm điều sai trái, đồng thời tạo một nền tảng để cả nhà đầu tư và người tiêu dùng an tâm trao đổi, kinh doanh khi sử dụng mô hình Timeshare.

[1] Gerasimos Zacharatos, ‘Theodoros Stavrinoudis, A methodological tool for the codification and evaluation of the international operational implementation of Timeshare’, <http://bit.ly/2OJBwub&gt; truy cập ngày 18/10/2019; ‘What is Timeshare?’, RCI <https://bit.ly/2rXXGBic > truy cập ngày 18/10/2019

[2] Đình Anh Vũ, ‘Timeshare là gì? Những điều cần biết về Timeshare’, CET, <https://bitly.com.vn/0jxQO&gt; truy cập ngày 19/10/2019. Xem thêm Beth Ross, ‘Buying a Timeshare: Pros, Cons, and Form of Ownership’ NOLO <http://bit.ly/2OYw8Fa&gt; truy cập ngày 20/10/2019

[3] Vy Thương, ‘3 hình thức kinh doanh Timeshare đẻ ra tiền’, Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam Reatimes <http://bit.ly/2YAcGSl&gt; truy cập ngày 19/10/2019

[4] Ninh Việt, ‘Cần lấp đầy khoảng trống mua bán kỳ nghỉ’ Đầu tư Bất động sản <http://bit.ly/2Rr6pXh&gt; truy cập ngày 17/10/2019

[5] ARDA, ‘Timeshare Industry in U.S. Sees Eighth Straight Year of Growth 2017 Numbers Reflect Industry Strength and Promising Future’ <http://bit.ly/2rn7qFk&gt; truy cập ngày 19/10/2019

[6] Kim Ngân, ‘Sở hữu kỳ nghỉ – mốt với nhà giàu thế giới nhưng mới ở Việt Nam’ VN Express (13/11/2018), <https://bitly.com.vn/9kR5i&gt; truy cập ngày 19/10/2019

[7] Trương Trọng Hiếu, ‘Khoảng trống pháp lý trong mua bán kỳ nghỉ’ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TP. HCM 16/07/2019) <https://bitly.com.vn/Himck&gt; truy cập ngày 18/10/2019

[8] ARDA Model Timeshare Resale Act (Version 15 – As adopted November 11, 2010)

[9] Luật Kinh doanh bất động sản 2014 Điều 3(1) quy định: Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi.

[10] Luật Kinh doanh bất động sản 2014 Điều 1

[11] Luật Thương mại Điều 3(9)

[12] Luật Du lịch 2017 Điều 1

[13] Trương Anh Tú, ‘Bốn lý do không nên mua sở hữu kỳ nghỉ’ Dân trí (17/05/2015), <https://bitly.com.vn/Ygesg&gt; truy cập ngày 20/10/2019

[14] BLDS 2015 Điều 3(2)

[15] Trương Trọng Hiếu, ‘Khoảng trống pháp lý trong mua bán kỳ nghỉ’, xem chú thích 7

[16] BLDS 2015 Điều 257

[17] BLDS 2015 Điều 159

[18] Trương Trọng Hiếu, ‘Khoảng trống pháp lý trong mua bán kỳ nghỉ’, xem chú thích 7

[19] Phát mãi tài sản là tài sản được thế chấp bị bán công khai theo quy định (do vay mà đến hạn không trả)

[20] Trương Trọng Hiếu, ‘Khoảng trống pháp lý trong mua bán kỳ nghỉ’, xem chú thích 7

[21] Trương Anh Tú, ‘Bốn lý do không nên mua sở hữu kỳ nghỉ’, xem chú thích 14

[22] BLDS 2015 Điều 405 (2)

[23] Trương Anh Tú, ‘Bốn lý do không nên mua sở hữu kỳ nghỉ’, xem chú thích 14

[24] Kỳ Nam, ‘Chán ngán sở hữu kỳ nghỉ’, Người Lao Động, (20/04/2018), <https://bitly.com.vn/PE23h&gt; truy cập ngày 19/10/2019

[25] Phan Sông Ngân, ‘Khách hàng thua kiện vụ ‘Sở hữu kỳ nghỉ Vịnh Thiên Đường’ Tuổi Trẻ Online (16/11/2018), <https://bitly.com.vn/Y2PXy&gt; truy cập ngày 28/10/2019

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
– Danh mục văn bản pháp luật
1. Bộ luật Dân sự 2015
2. Luật Du lịch 2017
3. Luật Kinh doanh bất động sản 2014
4. Nghị định số 168/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch.
5. Nghị định số 142/2018/NĐ-CP về sửa đổi một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
– Danh mục nguồn điện tử
1. Đình Anh Vũ, ‘Timeshare là gì? Những điều cần biết về Timeshare’ CET <https://bitly.com.vn/0jxQO&gt;
2. Ninh Việt, ‘Cần lấp đầy khoảng trống mua bán kỳ nghỉ’ <http://bit.ly/2Rr6pXh&gt;
3. Kim Ngân, ‘Sở hữu kỳ nghỉ – mốt với nhà giàu thế giới nhưng mới ở Việt Nam’, 13/11/2018 <https://bitly.com.vn/9kR5i >
4. Kỳ Nam, ‘Chán ngán sở hữu kỳ nghỉ’, Người Lao Động, (20/04/2018) <https://bitly.com.vn/PE23h&gt;
5. Phan Sông Ngân, ‘Khách hàng thua kiện vụ ‘Sở hữu kỳ nghỉ Vịnh Thiên Đường’, Tuổi Trẻ Online, (16/11/2018) <https://bitly.com.vn/Y2PXy&gt;
6. Trương Anh Tú, ‘Bốn lý do không nên mua sở hữu kỳ nghỉ’ Dân trí (17/05/2015), <https://bitly.com.vn/Ygesg >
7. Trương Trọng Hiếu, ‘Khoảng trống pháp lý trong mua bán kỳ nghỉ’, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, (TP. HCM 16/07/2019( <https://bitly.com.vn/Himck&gt;
8. Vy Thương, ‘3 hình thức kinh doanh Timeshare đẻ ra tiền’, Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam Reatimes <http://bit.ly/2YAcGSl&gt;
9. ARDA Model Timeshare Resale Act (Version 15 – As adopted November 11, 2010) <https://www.arda.org › ARDA › State_Legislative_Committee>
10. ARDA, ‘Timeshare Industry in U.S. Sees Eighth Straight Year of Growth 2017 Numbers Reflect Industry Strength and Promising Future’ <http://bit.ly/2rn7qFk&gt;
11. Beth Ross, ‘Buying a Timeshare: Pros, Cons, and Form of Ownership’, NOLO <http://bit.ly/2OYw8Fa&gt;
12. Gerasimos Zacharatos, ‘Theodoros Stavrinoudis, A methodological tool for the codification and evaluation of the international operational implementation of Timeshare’ <http://bit.ly/2OJBwub&gt;
13. ‘What is Timeshare?’, RCI <https://bit.ly/2rXXGBic&gt;