[CS 02 – 03/2017] Bàn về sự phù hợp của hàng hóa theo CISG

Trần Ngọc Phương Minh,

Sinh viên K15502, Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG Tp.HCM.

Từ ngày 01/01/2017, Công ước của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, sau đây gọi tắt là CISG) chính thức có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam. Bài viết bàn về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hàng hóa; trách nhiệm đảm bảo sự phù hợp của hàng hóa cũng như những tiêu chuẩn về mặt vật chất của hàng hóa chiếu theo CISG.

Từ khóa: hàng hóa, sự phù hợp của hàng hóa, Điều 3, Điều 35, CISG

1. Hàng hóa

CISG quy định về phạm vi áp dụng của Công ước bằng khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều 3[1]:

“1. Các hợp đồng cung cấp hàng hóa sẽ được chế tạo hoặc sản xuất được xem là hợp đồng mua bán, trừ trường hợp bên đặt hàng có nghĩa vụ cung cấp phần lớn nguyên liệu cần thiết cho việc chế tạo hoặc sản xuất hàng hóa đó.

  1. Công ước này không áp dụng đối với các hợp đồng mà trong đó, nghĩa vụ chủ yếu của bên cung cấp hàng là cung ứng lao động hoặc các dịch vụ khác.”

Theo 101 Câu hỏi – đáp về CISG soạn thảo bởi nhóm CISGVN[2], CISG không quy định những điều kiện cụ thể về hàng hóa. Tuy nhiên thông qua các bình luận pháp lý và vụ việc cụ thể trên thực tế, đối tượng được coi là “hàng hóa” theo CISG phải là các tài sản hữu hình[3] và có thể di chuyển được[4]. Những trường hợp bên mua có nghĩa vụ “cung cấp phần lớn nguyên liệu cần thiết cho việc chế tạo hoặc sản xuất hàng hóa” thì không được xem là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chịu sự điều chính của CISG.

Theo một nghiên cứu của Th.S Lê Tấn Phát và Th.S Nguyễn Hoàng Thái Hy[5], nguyên liệu để sản xuất hàng hóa tồn tại dưới dạng hữu hình (các vật liệu như phôi thép, sợi bông,…) lẫn vô hình (các bí quyết sản xuất kinh doanh, phần mềm máy tính, các tác quyền sở hữu trí tuệ,…) đều được xem là “nguyên liệu cần thiết” quy định tại khoản 1 Điều 3. Việc xác định như thế nào được xem là “cung cấp phần lớn” được các cơ quan tài phán đưa ra theo hai tiêu chí định lượng và tính cơ bản của nguyên liệu và phải được xét theo dữ kiện trong từng vụ việc cụ thể[6].

Trong các hợp đồng hỗn hợp mà nghĩa vụ của bên bán bao gồm cả việc cung ứng lao động, dịch vụ hay một nghĩa vụ nào khác thì CISG vẫn được sử dụng để điều chỉnh với điều kiện các nghĩa vụ này phải gắn liền mật thiết với hàng hóa đang được giao dịch và phải chiếm phần rất nhỏ so với nghĩa vụ cung cấp hàng hóa[7]. Các học giả và thực tiễn giải quyết tranh chấp xác định tiêu chí “phần lớn nghĩa vụ” theo hai tiêu chí định lượng theo giá trị kinh tế và tiêu chí về bản chất của hợp đồng[8]. Khi sử dụng tiêu chí bản chất của hợp đồng, các cơ quan tài phán phải xét đến ý chí của các bên và mục đích giao kết hợp đồng và “chỉ được áp dụng khi việc đánh giá dựa trên giá trị kinh tế là không thể hoặc không phù hợp, tùy theo từng trường hợp” (Ý kiến số 4 Hội đồng tư vấn CISG)[9].

2. Trách nhiệm của các bên trong việc đảm bảo sự phù hợp của hàng hóa

Trước đây, tập quán thương mại quốc tế xem nghĩa vụ đảm bảo bảo sự phù hợp của hàng hóa là trách nhiệm của bên mua hàng theo quy tắc caveat emptor – hàng hóa được nhìn thấy như thế nào thì được mua như vậy (bought as seen)[10]. Từ cuối thế kỉ XIX, khi việc mua bán hàng hóa quốc tế phát triển và khoảng cách giữa người mua và người bán có thể là rất xa, hai bên thường tham gia vào hợp đồng mặc dù chưa nhìn thấy trước hàng hóa. Khi đó, người mua chỉ có thể tin tưởng vào những thông tin mà người bán cung cấp về đặc điểm và chất lượng hàng hóa. Những thông tin này sẽ trở thành những điều khoản cơ bản và quan trọng của hợp đồng. Từ đây xuất hiện quy tắc caveat venditor, sự phù hợp của hảng hóa là trách nhiệm của bên bán[11].

            Ở đây bên bán được hiểu là nắm bắt thông tin nhiều hơn về hàng hóa vì bên bán thường xuyên giao dịch với hàng hóa này, trong khi bên mua chỉ mua hàng hóa khi cần để phục vụ cho mục đích sản xuất hoặc các hoạt động thương mại. Tuy nhiên, khi giả thiết thay đổi và bên mua là bên lựa chọn hay nguyên liệu để sản xuất hàng hóa đó hoặc có kiến thức vượt trội hơn người bán về đối tượng hàng hóa đang được giao dịch thì trách nhiệm đảm bảo sự phù hợp hàng hóa sẽ nghiêng về bên mua[12]. Ở đây đã xuất hiện những yếu tố nằm ngoài tầm ảnh hưởng của người bán mà có thể ảnh hưởng tới sự phù hợp của hàng hóa theo hợp đồng. Đặc biệt là khi bên bán chỉ là người trung gian phân phối hàng hóa, không phải là chuyên gia trong ngành hay lĩnh vực của hàng hóa này.

            Nếu xảy ra sự không phù hợp của hàng hóa thì các bên có nghĩa vụ chứng minh sự không phù hợp đó không phải do bên mình gây ra. Tuy nhiên, không có quy định cụ thể nào về nghĩa vụ chứng minh trong luật quốc tế như trong luật quốc nội. Theo những nhà nghiên cứu thì nghĩa vụ chứng minh trong CISG nói chung và sự phù hợp của hàng hóa nói riêng phải tuân theo quy tắc ei incumbit probation, qui dicit, non qui negat (chứng cứ do người người muốn chứng minh đưa ra, không phải từ người muốn chối từ)[13]. Khi hàng hóa được giao không phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, người mua sẽ phải chứng minh hàng hóa mình nhận được không phù hợp. Sau đó nghĩa vụ chứng minh sẽ được chuyển từ người mua qua người bán và người bán có nghĩa vụ chỉ ra sự không phù hợp đó không phải do mình gây ra.

Để cân bằng giữa hai học thuyết caveat emptor caveat venditor, bên nào có tầm ảnh hưởng lớn hơn tới sự phù hợp của hàng hóa sẽ là bên có trách nhiệm đảm bảo sự phù hợp trên. CISG phân biệt sự phù hợp của hàng hóa thành hai loại: Sự phù hợp về mặt vật chất (số lượng, chất lượng) và sự phù hợp về mặt pháp lý (hay còn gọi là tính hợp pháp của hàng hóa)[14]. Bài viết được giới hạn trong khuôn khổ sự phù hợp của hàng hóa về mặt vật chất được quy định tại Điều 35 của CISG.

3. Đảm bảo sự phù hợp về mặt vật chất của hàng hóa theo CISG

CISG nói chung và đặc biệt là điều khoản về sự ko phù hợp hàng hóa (Điều 35) đã tạo nên rất nhiều sự thay đổi luật quốc nội. Trong đó bao gồm cả những điều khoản về sự phù hợp hàng hóa trong pháp luật mua bán hàng hóa của Liên minh Châu Âu (European Union). Điều 35 của CISG quy định:

“1. Bên bán phải giao hàng đúng số lượng, chất lượng và miêu tả theo quy định trong hợp đồng và được đóng gói bằng cách thức theo quy định trong hợp đồng.

  1. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, hàng hóa được xem là không phù hợp với hợp đồng, trừ khi hàng hóa đó:
  2. phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng loại;
  3. phù hợp với bất kỳ mục đích sử dụng cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết một cách rõ ràng hoặc ngầm định vào thời điểm giao kết hợp đồng, trừ trường hợp hoàn cảnh chỉ ra rằng bên mua không hành động dựa trên sự tin tưởng đối với năng lực và đánh giá của bên bán hoặc đối với bên mua thì hành động như vậy là không hợp lý;
  4. có chất lượng giống như mẫu hàng hóa mà bên bán giao cho bên mua;
  5. được đóng gói bằng cách thức thông thường cho loại hàng hóa đó hoặc, nếu không có cách thức đó, bằng cách thức phù hợp để bảo quản và bảo vệ hàng hóa.
  6. Bên bán không chịu trách nhiệm theo quy định tại các điểm từ a đến d của khoản trên về bất kỳ sự không phù hợp nào của hàng hóa nếu, vào thời điểm giao kết hợp đồng, bên mua biết hoặc không thể không biết về sự không phù hợp đó.”

Khoản 1 Điều 35 khẳng định nghĩa vụ giao hàng phù hợp với hợp đồng là nghĩa vụ của bên bán. Điều khoản này của CISG khẳng định nguồn căn đầu tiên và quan trọng nhất cho sự phù hợp của hàng hóa chính là hợp đồng giữa các bên. Nếu như hợp đồng không quy định cụ thể, những nhà nghiên cứu CISG cho rằng khoản 2 như một cách “điền vào chỗ trống”, và khoản 3 là điều khoản miễn trừ trách nhiệm cho bên bán trong trường hợp bên mua  “biết hoặc không thể không biết về sự không phù hợp”.

3.1. Khoản 1 – hàng hóa phải phù hợp với những điều khoản của hợp đồng

Theo khoản 1 Điều 35, khối lượng, chất lượng, miêu tả hình dạng của hàng hóa cũng như cách đóng gói của hàng hóa phải ứng với những điều khoản đã được ghi nhận trong hợp đồng. Tuy nhiên, việc áp dụng khoản 1 Điều 35 sẽ trở nên khó khăn nếu những tiêu chuẩn của hàng hóa không được viết ra hay chỉ được viết ra một phần[15]. Hơn nữa, nếu chỉ diễn giải xuôi rằng hàng hóa chỉ cần phù hợp với hợp đồng là quá hẹp[16]. Phát biểu của một bên phải được diễn giải đúng với ý định của bên đó cho dù được thể hiện rõ ràng trong hợp đồng hay chỉ ngầm định nếu bên kia biết hoặc không thể không biết về ý định đó[17]. Điều này được hiểu trên tinh thần Điều 8 của CISG, “các tuyên bố và hành vi của một bên được giải thích theo ý định của bên đó nếu bên kia biết hoặc không thể không biết về ý định đó”. Cho dù không ghi thẳng ra trong hợp đồng, dựa vào hoàn cảnh cụ thể, bên bán vẫn phải tuân thủ nghĩa vụ bảo đảm sự phù hợp của hàng hóa mà một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự có thể hiểu (khoản 2 Điều 8). Điều 8 được ghi nhận trong Chương II Những quy định chung nên Điều 8 được áp dụng đối với mọi phát biểu, kể cả những phát biểu hình thành nên mục đích của hợp đồng[18]. Kết quả của việc áp dụng Điều 8 là tất cả những phát biểu, cho dù được biểu hiện rõ ràng hay ngầm định qua những hành vi đơn phương đều cấu thành nghĩa vụ cho bên bán[19]. Như vậy, hàng hóa phải phù hợp với mục đích cụ thể của bên mua quy định rõ ràng trong hợp đồng hay ngầm định trong hoàn cảnh cụ thể mà có thể không cần dùng tới điểm b khoản 2 của Điều 35 để “điền vào chỗ trống”.

3.2. Khoản 2 – Quy định của CISG về sự phù hợp của hàng hóa

Điểm a – d của khoản 2 Điều 35 quy định 4 trường hợp mà hàng hóa có thể được xem là phù hợp nếu hợp đồng không quy định: (i) phù hợp với mục đích sự dụng thông thường của hàng hóa; (ii) phù hợp với mục đích sử dụng đặc biệt nào đó của bên mua; (iii) có chất lượng giống như mẫu hàng bên bán đã giao cho bên mua và (iv) được đóng gói một cách phù hợp để bảo quản và bảo vệ hàng hóa.

(i) Phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng loại

Đôi khi hàng hóa chỉ được đặt với mô tả chung mà không có chỉ dẫn rõ ràng cho bên bán mục đích của hàng hóa là gì[20]. Khi đó, bên bán vẫn có trách nhiệm chuẩn bị hàng hóa phù hợp với tất cả các mục đích thông thường của hàng hóa và phải bán lại được[21]. Nếu hàng hóa của bên bán chỉ phù hợp với một vài mục đích thông thường của hàng hóa thì phải hỏi bên mua mục đích cụ thể của họ để bên bán có thể từ chối đơn hàng nếu cần thiết. Bên bán không phải giao hàng hóa phù hợp với một mục đích đặc biệt mà không phải “mục đích sử dụng thông thường” của hàng hóa nếu bên mua đã không nhắc tới mục đích đó trong thời gian hợp đồng được giao kết[22].

Để xét xem bình thường hàng hóa cùng loại với hàng hóa đang được giao dịch trong hợp đồng được sử dụng vào những mục đích nào, các bên phải xét tới tập quán thương mại trong lĩnh vực liên quan[23]. Vấn đề tập quán ở đâu để áp dụng: quốc gia của bên mua, của bên bán hay một quốc gia thứ ba hoàn toàn khác phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Các bên vẫn cần dựa vào thỏa thuận để xét xem lựa chọn nơi nào để áp dụng tập quán.

Cả trên lý thuyết lẫn trong thực tế, bên bán được xem là không thể biết tập quán của quốc gia bên mua. Về mặt kinh tế điều này hoàn toàn hợp lý vì bên mua có thể có được những thông tin liên quan hiệu quả hơn và rẻ hơn bên bán[24]. Quy tắc này được khẳng định trong một quyết định của Tòa án Tối cao Liên bang Đức vào ngày 08/03/1995 khi mà hàng hóa được giao hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn y tế của bên bán nhưng lại không đạt tiêu chuẩn y tế của quốc gia bên mua[25]. Toà án Tối cao Liên bang Đức nhận định hàng hóa đã phù hợp với tiêu chuẩn của quốc gia bên bán, tức là nó phù hợp với mục đích thương mại, không có sự không phù hợp “theo mục đích sử dụng thông thường”. Bên mua đã phải có nghĩa vụ thông báo cho bên bán biết về tiêu chuẩn y tế của quốc gia mình vì bên mua không thể biết và cũng không có nghĩa vụ phải biết. Tuy nhiên, có những trường hợp bên bán biết hoặc phải biết nếu: có chi nhánh ở quốc gia của bên mua; hai bên đã có một thỏa thuận thương mại lâu dài; bên bán thường xuyên xuất khẩu sang thị trường của bên mua hoặc có thị thường tiêu thụ tại quốc gia bên mua[26].

(ii) Phù hợp với mục đích sử dụng đặc biệt nào đó của bên mua

Khoản 1 và điểm b khoản 2 đều dựa vào kĩ năng và kiến thức của bên bán một cách hợp lý. Bên bán có thể không phải chịu trách nhiệm giao hàng hóa phù hợp với mục đích sử dụng đặc biệt nếu hoàn cảnh cho thấy bên mua không dựa vào, hoặc không hợp lý để dựa vào khả năng và nhận định của bên bán[27]. Ví dụ như khi bên mua yêu cầu bên bán sản xuất hàng hóa một cách nhất định; yêu cầu tiêu chuẩn kĩ thuật cụ thể hoặc bên mua tham gia vào việc chọn hàng, kiểm tra hàng trước khi mua,… bất kể bên bán có đưa ra nhận định hay lời khuyên hay không, đặc biệt là khi bên mua sử dụng hàng hóa để sản xuất, và sẽ có nhiều thông tin về hàng hóa hơn bên bán[28]. Như vậy, bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa “phù hợp với mục đích sử dụng đặc biệt nào đó của bên mua” khi bên bán biết hoặc không thể không biết mục đích đó.

(iii) Có chất lượng giống như mẫu hàng hóa mà bên bán giao cho bên mua

Khi bên mua hoặc bên bán đưa ra một mẫu sẵn, mẫu hàng hóa đó sẽ trở thành điều khoản hợp đồng về chất lượng mà hai bên đều phải tuân thủ theo quy định tại khoản 1 Điều 35[29]. Nếu bên bán chỉ ra rằng hàng mẫu có một vài đặc điểm hàng hóa cụ thể khác với hàng hóa sẽ được giao thì bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về những đặc điểm giống còn lại[30]. Nếu mô tả của hàng hóa trong hợp đồng không giống với mẫu thì sẽ ưu tiên mô tả được quy định trong điều khoản hợp đồng[31].

(iv) Được đóng gói bằng cách thức phù hợp để bảo quản và bảo vệ hàng hóa

Việc đóng gói hàng hóa theo cách thông thường là điều kiện tối thiểu, nhưng nếu hàng hóa là hàng hóa mới hoặc là phải sản xuất một cách đặc biệt thì bên bán được tự do đóng gói hàng hóa theo chi phí bên bán cho rằng phù hợp[32]. Cách đóng gói hàng hóa không chỉ bị ảnh hưởng bởi chính hàng hóa đó, mà kể cả cách thức và khoảng thời gian vận chuyển, con đường, khí hậu của quốc gia điểm đến,… Bên bán cũng phải dự liệu được những vấn đề về mặt logistics như trường hợp bị hoãn hay bị chuyển tuyến đường nếu biết được trước khi hoàn thành việc giao kết hợp đồng để đóng gói hàng hóa một cách phù hợp nhất.

3.3. Khoản 3 – Điều khoản miễn trừ trách nhiệm của bên bán

Như đã phân tích ở trên tại mục 2, có những trường hợp nằm ngoài tầm kiểm soát của bên bán và bên bán không phải chịu trách nhiệm về sự phù hợp của hàng hóa. Dựa theo cách khoản 3 được soạn thảo và thực tiễn thực tiễn xét xử, khoản 3 Điều 35 chỉ được sử dụng cho những trường hợp được liệt kê tại khoản 2[33]. Bên mua phải chịu trách nhiệm khi có sự chủ quan trong việc kiểm tra hàng hóa một cách trông thấy được từ góc độ một người tiêu dùng thông thường. Những trường hợp bên mua không thể không biết là khi bên mua đã từng nhận hàng kém chất lượng từ bên bán, giá bán bằng giá sản phẩm kém chất lượng hoặc bên bán biết chắc chắn hàng hóa sẽ là hàng kém chất lượng nhưng vẫn giao kết hợp đồng[34].

            Như vậy, CISG tôn trọng tối đa thỏa thuận giữa hai bên và có những điều khoản mang tính khái quát cao về hàng hóa và chất lượng hàng hóa. Các bên cần nghiên cứu kĩ những điều khoản của CISG cũng như sự giải thích từ các nghiên cứu và thực tiễn xét xử của tòa án để tận dụng CISG một cách hiệu quả nhất./.

[1] Bản dịch của CISG sử dụng trong bài viết được thực hiện bởi Nguyễn Thế Đức Tâm (Đại học Paris II, Cộng hòa Pháp) và được hiệu đính bởi ThS LS Nguyễn Trung Nam (Công ty Luật EPLegal), TS Nguyễn Minh Hằng và ThS Nguyễn Thị Quỳnh Yến (Đại học Ngoại thương). Xem thêm tại: http://vietnamesejurisprudence.com/?p=154, truy cập ngày [20/02/2017]

[2] CISGVN được hình thành từ năm 2010, khởi nguồn từ một nỗ lực của Ủy ban tư vấn chính sách thương mại quốc tế của VCCI nhằm vận động chính phủ Việt Nam gia nhập CISG nhằm thúc đẩy hội nhập luật thương mại quốc tế của Việt Nam với thế giới. Xem thêm tại: http://www.cisgvn.net/, truy cập ngày [20/02/2017].

[3]  Peter Schlechtriem, Requirements of Application and Sphere of Applicability of the CISG, Victoria University of Wellington Law Review (2005/4) 781-794

[4] Judith L. Holdsworth, Practical Applications of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (“CISG”).

[5] ThS. Lê Tấn Phát, Th.S Nguyễn Hoàng Thái Hy, “Bàn về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Điều 3 của Công ước Vienna 1980”, tạp chí Khoa học pháp lý, số 06 (100)/ 2016, tr. 56 – 64.

[6] Nt.

[7] John O. Honnold, Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention, 3rd ed. (1999), tr. 56-62. Xem thêm tại: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/ho3.html, [truy cập ngày 05/03/2017].

[8] ThS. Lê Tấn Phát, Th.S Nguyễn Hoàng Thái Hy, nt.

[9] ThS. Lê Tấn Phát, Th.S Nguyễn Hoàng Thái Hy, nt.

[10] René Franz Henschel (2004), “Conformity of Goods in International Sales Governed by CISG Article 35: Caveat Venditor, Caveat Emptor and Contract Law as Background Law and as a Competing Set of Rules”, tạp chí Nordic Journal of Commercial Law. Xem thêm tại: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/henschel2.html, [truy cập ngày 05/03/2017].

[11] Nt.

[12] Nt.

[13] Anna L. Linne, “Burden of Proof Under Article 35 CISG”, tạp chí Pace International Law Review,  số mùa xuân 2008, tr. 31 – 42. Xem thêm tại: http://iicl.law.pace.edu/cisg/scholarly-writings/burden-proof-under-article-35-cisg#1, [ngày truy cập 08/03/2017].

[14] ThS. Trần Thị Sáu Nhàn, “Nghĩa vụ đảm bảo sự phù hợp về mặt vật chất của hàng hóa theo Công ước Viên  về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, tạp chí Dân chủ & Pháp luật, đăng ngày 26/08/2015. Xem thêm tại: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=84, [ngày truy cập 05/03/2017].

[15] Article 35: Secretariat Commentary (Closest Counterpart to an Official Commentary). Xem thêm tại: http://iicl.law.pace.edu/cisg/page/article-35-secretariat-commentary-closest-counterpart-official-commentary#sthash.Ymc1dRpo.dpuf, [ngày truy cập 05/03/3017].

[16] Thomas Neumann, “Features of Article 35 in the Vienna Convention; Equivalence, Burden of Proof and Awareness”, tạp chí Vindobona Journal of International Commercial Law and Arbitration, số (2007/1), tr. 81-97. Xem thêm tại: http://iicl.law.pace.edu/cisg/scholarly-writings/features-article-35-vienna-convention-equivalence-burden-proof-and-awareness#vi, [ngày truy cập 05/03/2017].

[17] Nt.

[18] Nt.

[19] Nt.

[20] Article 35: Secretariat Commentary (Closest Counterpart to an Official Commentary), nt.

[21] Nt.

[22] Nt.

[23] René Franz Henschel (2004), nt.

[24] René Franz Henschel (2004), nt.

[25] Xem Anna Veneziano, “Non Conformity of Goods in International Sales: a survey of current case law on CISG”, tạp chí International Business Law Journal, số 01 (1997), tr. 46.

[26] René Franz Henschel (2004), nt.

[27] Article 35: Secretariat Commentary (Closest Counterpart to an Official Commentary), nt.

[28] Nt.

[29] Fritz Enderlein, Dietrich Maskow (1992), International Sales Law – Article 35 [Conformity of the Goods], Oceana Publications.

[30] Article 35: Secretariat Commentary (Closest Counterpart to an Official Commentary), nt.

[31] Fritz Enderlein, Dietrich Maskow (1992), nt.

[32] Nt.

[33] Nt.

[34] Nt.