Phương pháp nghiên cứu luật viết (TS Nguyễn Ngọc Điện)

GIỚI THIỆU 

  1. Quy ước về khái niệm luật viết

Luật viết, hiểu theo nghĩa hẹp, là văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, các văn bản này bao gồm: Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội[1], một số Nghị quyết của Quốc hội hoặc của UBTVQH[2].

Trong báo cáo này, luật viết được quy ước như một thuật ngữ mà việc định nghĩa được thực hiện theo hai bước:

1 –  Đó là các văn bản quy phạm pháp luật, nghĩa là văn bản được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo nghĩa đó, thì luật viết là tất cả các văn bản thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12/11/1996[3].

2 – Đó là các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành, tức là những văn bản tạo thành một bộ phận của luật thực định.

Xác định đối tượng nghiên cứu và phân tích. Đối tượng nghiên cứu và phân tích là nội dung của văn bản được gọi là luật viết chứ không phải là trình tự, thẩm quyền ban hành, cũng không phải là kết cấu hình thức của văn bản đó. Về phương diện phương pháp luận, có thể gọi “nội dung của văn bản luật” là kết cấu pháp lý của nó, được hình dung như một tổng thể các quy tắc hiển hiện hoặc tiềm ẩn trong văn bản luật và được sắp xếp theo một trật tự nhất định.

Tùy theo quy mô của từng dự án, từng hoạt động nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phân tích có thể là nội dung của toàn bộ văn bản hoặc một phần, một chương, thậm chí chỉ một điều luật trong văn bản. Việc nghiên cứu và phân tích toàn bộ, một phần hoặc một chương của văn bản có thể dẫn đến việc cho ra đời cả một quyển sách (thậm chí một bộ sách); trong khi việc nghiên cứu và phân tích một điều luật thường được thực hiện trong khuôn khổ một bài báo hoặc một bài luận văn về luật. Riêng việc nghiên cứu và phân tích luật viết trong quá trình áp dụng pháp luật sẽ cho ra sản phẩm dưới dạng một hoặc nhiều quy tắc có tác dụng đặt cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề được đặt ra trong khuôn khổ vụ việc được người thực hành luật xem xét.

  1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu và phân tích luật viết

Vai trò quan trọng của luật viết. Trong quan niệm được chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam hiện nay, luật viết (được biết dưới một cách diễn đạt khác thông dụng hơn là “văn bản quy phạm pháp luật”) là hình thức đáng tin cậy nhất của pháp luật. Thực ra, đây cũng là quan niệm thống trị trong hầu hết các nước chịu ảnh hưởng của văn hoá pháp lý la tinh. Thậm chí, các nước theo Common law, sau một thời kỳ dài xem án lệ là nguồn cơ bản của hệ thống các quy tắc pháp lý, cũng đã bắt đầu dành cho luật viết sự quan tâm sâu sắc hơn: ở Mỹ, luật viết thực sự là một nguồn quan trọng của luật và quy tắc viết phải là quy tắc được lựa chọn trong trường hợp có sự đối lậûp giữa luật viết và án lệ về cách giải quyết một vấn đề pháp lý cụ thể.

Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, luật viết và tục lệ là những nguồn trực tiếp của luật; nhưng luật viết hơn hẳn tục lệ trong thứ tự lựa chọn quy phạm áp dụng cho một trường hợp thực tiễn đặc thù. Người làm luật đã chính thức thừa nhận điều này trong lĩnh vực dân sự (BLDS Điều 14): 1 – Nếu đối với cùng một vấn đề mà cả luật viết và tục lệ đều có quy tắc giải quyết, thì phải lựa chọn quy tắc của luật viết; 2 – Trong trường hợp không có quy tắc của luật viết và phải dùng tục lệ để giải quyết vấn đề, thì phải lựa chọn những quy tắc tục lệ nào phù hợp với những nguyên tắc của luật viết. Hẳn sự thừa nhận đó còn được quán triệt trong tất cả các ngành luật nào công nhận tục lệ như là một nguồn luật, chứ không chỉ riêng luật dân sự, dù không có quy định rành mạch (tương tự như Điều 14 BLDS) trong luật viết ở các lĩnh vực khác.

Những hạn chế của luật viết. Thế nhưng, cũng như bất kỳ tồn tại khách quan nào, luật viết luôn ở trong tình trạng vận động hướng tới sự hoàn thiện mà không bao giờ đạt đến sự hoàn thiện tuyệt đối. Về phần mình, người làm luật, cũng như tất cả mọi người – nghĩa là có những thiếu sót, những định kiến và những hạn chế về tầm nhìn, tầm suy nghĩ – không thể dự kiến tất cả mọi tình huống pháp lý có thể xảy ra trong cuộc sống, những khó khăn có thể xuất hiện trong quá trình áp dụng văn bản pháp luật do mình soạn thảo và ban hành, cũng như có thể nhầm lẫn. Có lúc, người làm luật ở Đức đã có ý định dùng luật viết như là công cụ duy nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh; bởi vậy, Bộ luật dân sự Đức đã được soạn thảo với sự tỉ mỉ đến mức có thể được, nhằm đặt cơ sở cho việc giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống dân sự … và người Đức đã không thành công[4]. Sự không rõ nghĩa của câu chữ, sự không đầy đủ của nội dung của một văn bản luôn là căn bệnh cố hữu của văn bản luật, không bao giờ có thể được chữa khỏi, trước hết do:

     – Bản thân ngôn ngữ luôn có những vấn đề tự nhiên về nội hàm. Với tư cách là một công cụ quy ước để tồn trữ và chuyển tải thông tin, ngôn ngữ được coi như một loại tục lệ trong giao tiếp xã hội, giao tiếp sư phạm, giao tiếp giữa quá khứ, hiên tại và tương lai. Nội hàm của từ ngữ phong phú như tư duy và trở thành con dao hai lưỡi khi được sử dụng như là công cụ diễn đạt nội dung của quy phạm pháp luật[5]. Đặc biệt, trong trường hợp diễn đạt không khéo, người soạn thảo văn bản có thể đặt trước người đọc văn bản những câu chữ không rõ nghĩa hoặc được hiểu theo nhiều nghĩa cùng một lúc, và hệ quả là việc áp dụng pháp luật sẽ không được thống nhất, một khi các nỗ lực, tiến hành trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhằm nắm bắt ý chí của người làm luật, cho ra những kết quả không giống nhau. 

Ví dụ [6]. Theo BLDS Điều 238 khoản 2, khi có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Cách ly điều luật đó với những điều luật khác có liên quan, ta hiểu rằng chủ nợ của một người có quyền sở hữu chung có quyền yêu cầu chia tài sản chung của người mắc nợ, có quyền tham gia vào việc chia tài sản chung và có quyền yêu cầu giao cho mình khoản tiền được chia cho người mắc nợ tương ứng với số nợ cần đòi. Nhưng coi điều luật như một phần của chế định phân chia tài sản chung, ta lại nhận thấy rằng chủ nợ có quyền yêu cầu chia tài sản chung, tham gia vào việc chia tài sản chung như một người có quyền sở hữu chung, nhận tài sản được chia cho người mắc nợ  (có thể bao gồm cả tiền, hiện vật và quyền tài sản) và yêu cầu kê biên phần tài sản chia đó, nếu cần, bán đấu giá các tài sản chia bằng hiện vật, để nhận tiền thanh toán. Theo cách hiểu thứ hai, thì nhận tiền thanh toán là công việc cuối cùng mà chủ nợ thực hiện sau khi tài sản chia gia nhập vào khối tài sản thuộc sở hữu cá nhân của người mắc nợ, không phải công việc được thực hiện lúc chia tài sản chung.

Số lượng câu chữ của văn bản luôn có giới hạn. Không thể có văn bản vô hạn về số lượng câu chữ; và một hình thức có giới hạn thể hiện một nội dung có giới hạn. Bởi vậy, văn bản luôn chỉ có một số lượng giới hạn các quy tắc, trong khi các quan hệ xã hội cần điều chỉnh phát sinh và phát triển đa dạng. Vả lại, theo một định mệnh nghiệt ngã, văn bản pháp luật luôn ở vị trí người đi sau  trong việc dự liệu các tình huống pháp lý so với thực tiễn áp dụng pháp luật. Lấy một ví dụ: thực tiễn giao dịch hiện đại đã thừa nhận việc mua bán tài sản trên mạng internet vài năm trước khi có các quy tắc pháp lý được ghi nhận trong các hệ thống luật tiên tiến chi phối các giao dịch loại này[7].

Vai trò của hoạt động nghiên cứu và phân tích luật viết. Đối tượng của hoạt động nghiên cứu và phân tích luật không chỉ có luật viết mà bao gồm tất cả các nguồn của luật. Tuy nhiên, với tư cách là nguồn chủ yếu của luật trong quan niệm Việt Nam, luật viết đồng thời cũng là đối tượng chủ yếu của hoạt động nghiên cứu và phân tích luật ở Việt Nam. Việc nghiên cứu và phân tích luật viết nhằm mục đích làm sáng tỏ luật, làm rõ các quy tắc mà người làm luật muốn thiết lập và bảo đảm tính chính xác của việc áp dụng luật trong thực tiễn. Giá trị ứng dụng của các kết quả nghiên cứu và phân tích luật viết không giống nhau, tuỳ theo tính chất, đặc điểm của mối quan hệ giữa người nghiên cứu và phân tích luật với quyền lực công cộng.

Với người được Nhà nước công nhận có thẩm quyền giải thích chính thức luật viết, các kết quả nghiên cứu và phân tích luật viết trở thành nội dung của văn bản giải thích chính thức và văn bản này có tính pháp quy, nghĩa là được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

Với người không có thẩm quyền giải thích chính thức luật viết, các kết quả nghiên cứu phân tích và giải thích luật viết có giá trị không giống nhau tuỳ theo hoạt động nghiên cứu và phân tích được thực hiện trong hay ngoài khuôn khổ công tác xét xử.

+ Được thực hiện ngoài khuôn khổ công tác xét xử, hoạt động nghiên cứu và phân tích luật viết cho ra kết quả nội dung của các công trình nghiên cứu khoa học luật và là nguồn tài liệu tham khảo đối với người làm luật cũng như người thực hành luật;

+ Được thực hiện trong khuôn khổ công tác xét xử, hoạt động nghiên cứu và phân tích luật viết cho ra kết quả có tác dụng đặt cơ sở cho bản án hoặc quyết định của Toà án.

Thuộc nhóm những người nghiên cứu và phân tích ngoài khuôn khổ hoạt động xét xử  ta có người nghiên cứu, giảng dạy luật, những người thực hành luật có làm công việc tổng kết thành lý luận những thành tựu áp dụng pháp luật trong thực tiễn; ta tạm gọi loại người này là nhà chuyên môn hoặc người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp. Thuộc nhóm những người nghiên cứu và phân tích trong khuôn khổ hoạt động xét xử, ta có các thẩm phán, hội thẩm, gọi chung là người thực hành luật trong hoạt động xét xử.

Ở đây ta tập trung xem xét hoạt động của người nghiên cứu và phân tích thuộc nhóm thứ hai.

Mục tiêu của đề tài. Mục tiêu chuyên môn của dự án nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài này là xác định các công cụ khoa học mà người nghiên cứu luật cũng như người thực hành luật ở Việt nam có thể sử dụng để thâm nhập vào nội dung của các quy định trong một văn bản luật nhằm phát hiện ý chí của người làm luật ẩn chứa trong câu chữ của các điều luật.

Mục tiêu thực tiễn của dự án nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài này là góp phần cải thiện chất lượng hoạt động nghiên cứu ứng dụng đối với luật viết, đặc biệt là qua việc làm cho các quy tắc được chứa đựng trong các văn bản được phát hiện và nhìn nhận, góp phần làm sáng tỏ nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật. Sự sáng tỏ của luật là một trong những điều kiện cần đối với việc nâng cao tính hiệu quả của luật, đặc biệt là tính chính xác của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Việc áp dụng pháp luật chính xác đến lượt mình sẽ tạo điều kiện nâng cao tính thuyết phục của luật đối với dân cư và tính thuyết phục của luật đối với dân cư là điều kiện cần cho việc củng cố, hoàn thiện ý thức pháp luật, ý thức xã hội nói chung.

Về lâu dài, nhóm nghiên cứu mong muốn giới thiệu các phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết hiện đại có thể được vận dụng trong hoàn cảnh, điều kiện của hoạt động nghiên cứu và hoạt động áp dụng pháp luật tại Việt Nam, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng của khoa học luật cũng như chất lượng của các quyết định áp dụng pháp luật, đặc biệt là các quyết định áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử. Việc nâng cao chất lượng của khoa học luật và của các quyết định áp dụng pháp luật là một trong những điều kiện cần thiết cho việc bảo đảm tính hiệu quả của luật trong thực tiễn.

Trước mắt, nhóm nghiên cứu hy vọng rằng những kết quả đạt được trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này có thể được sử dụng như các công cụ mang tính phương pháp luận trong việc xây dựng, hoàn thiện các công trình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy về luật tại các cơ sở đào tạo về luật ở Việt Nam.

Hạn chế của báo cáo. Do đặc điểm riêng về chuyên môn của các thành viên thuộc nhóm nghiên cứu, việc áp dụng các phương pháp được xây dựng trong khuôn khổ đề tài này chỉ được thực hiện chủ yếu trong các lĩnh vực dân sự (kể cả thương mại), hôn nhân và gia đình và, một cách dè dặt, trong lĩnh vực hình sự. Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng với sự quan tâm của các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực khác, các phương pháp được giới thiệu sau đây sẽ sớm được xem xét sử dụng một cách phổ biến trong hoạt động nghiên cứu và phân tích luật viết trong nhiều lĩnh vực.

Bố cục. Báo cáo được xây dựng thành ba phần

Phần thứ nhất.            Các kết quả đạt được theo nội dung thuyết minh đã đăng ký

Phần thứ hai. Các kết quả mới nổi bật

Phần thứ ba.               Kiến nghị sử dụng các kết quả đạt được   

[1] Theo Hiến pháp, UBTVQH được phép thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội bằng cách ban hành những Pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao ( Hiến pháp năm 1992 Điều 91 khoản 4).

[2] Ngoài Hiến pháp, Bộ luật và Luật, các văn bản được liệt kê trong định nghĩa luật theo nghĩa hẹp đưọc gọi là các văn bản có giá trị như luật.

[3] Luật ngày 12/11/1996 không có quy định nào liên quan đến các văn bản pháp quy do Hội đồng nhân dân và UBND ban hành. Thiếu sót này đã được ghi nhận nhưng chưa được khắc phục trong Luật ngày 16/12002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ngày 12/11/1996. Dự kiến sẽ có một luật riêng về các văn bản pháp quy do HĐND và UBND ban hành.

Dẫu sao, nghiên cứu và phân tích luật viết, được hiểu như là một hoạt động nhằm xây dựng học thuyết pháp lý, chỉ quan tâm đến các văn bản có hiệu lực áp dụng trong phạm vi cả nước, nghĩa là các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương ban hành.

[4] Mazeaud và Chabas, LeVons de droit civil, Montchrestien, 1986, T. 1, q.1, số 93.

[5] Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, các văn bản pháp luật quan trọng ở Việt Nam đều dành riêng một điều luật thuộc phần đầu để giải thích một số thuật ngữ quan trọng được sử dụng trong chính văn bản đó. Đây là một trong những nỗ lực của người làm luật nhăm lọai trừ khả năng hiểu một thuật ngữ pháp lý theo nhiều nghĩa, dẫn đến việc giải thích các điều luật không giống nhau và việc áp dụng cùng một quy tắc pháp lý theo nhiều cách khác nhau.

 Tuy nhiên, số lượng các thuật ngữ được giải thích chỉ có giới hạn. Điều luật về giải thích thuật ngữ, nói chung, không giúp giải quyết được một cách cơ bản vấn đề giải thích luật.

[6] Về một phân tích chi tiết ví dụ này: Nguyễn Ngọc Điện, Thừa kế, nxb Trẻ, 1999, tr. 568 và kế tiếp.

[7] Ở Việt Nam, việc mua bán trên internet chưa được phổ biến lắm.

TOÀN BỘ BÁO CÁO: [PDF] Phương pháp nghiên cứu luật viết